KHẢ NĂNG PHÂN BIỆT TỰ THÂN CỦA NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM
Khả năng phân biệt tự thân của nhãn hiệu (inherent distinctiveness) là khả năng một nhãn hiệu tự nó có thể giúp người tiêu dùng nhận biết và phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một chủ thể với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác, mà không cần thông qua quá trình sử dụng lâu dài.

Nhãn hiệu có khả năng phân biệt càng lớn thì việc ngăn chặn các chủ thể khác sử dụng nhãn hiệu của họ càng dễ dàng. Đối với các nhãn hiệu ít có khả năng phân biệt thì việc bảo hô các nhãn hiệu này càng trở nên khó khăn hơn. Nhãn hiệu có thể được chia ra làm 5 mức độ phân biệt, từ yếu cho tới cao nhất, cụ thể là:
- Tên gọi chung (Generic marks)
- Đặc điểm: Là tên gọi thông thường của chính hàng hóa hoặc dịch vụ.
- Khả năng phân biệt: Các từ là tên gọi chung không bao giờ có khả năng phân biệt và không được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu.
- Ví dụ: “Milk” cho sữa; “Computer” cho máy tính.
- Lưu ý: Một nhãn hiệu có khả năng phân biệt cao vẫn có thể trở thành một yếu tố generic nếu nhãn hiệu được sử dụng nhiều và thường xuyên đến mức trở thành tên gọi của sản phẩm và không còn có khả năng phân biệt. Ví dụ: “Bim Bim” hay “Yo-yo” đều đã từng là các nhãn hiệu được bảo hộ.
- Nhãn hiệu mô tả (Descriptive Marks)
- Đặc điểm: Trực tiếp mô tả các đặc tính của sản phẩm/dịch vụ (chất lượng, công dụng, số lượng, nguồn gốc địa lý).
- Khả năng phân biệt: Rất thấp. Không được bảo hộ trừ khi đã sử dụng lâu năm và được người tiêu dùng công nhận rộng rãi (Secondary Meaning).
- Ví dụ: Dùng từ “Ngon” cho nhà hàng, hoặc “Nước khoáng” cho sản phẩm nước uống.
- Nhãn hiệu gợi tả (Suggestive Marks)
- Đặc điểm: Yêu cầu người tiêu dùng phải suy nghĩ, vận dụng trí tưởng tượng để liên tưởng đến bản chất của hàng hóa. Dấu hiệu này không trực tiếp mô tả.
- Khả năng phân biệt: Trung bình, vẫn có thể được chấp nhận bảo hộ.
- Ví dụ: Tên “Jaguar” gợi nhớ đến tốc độ cho dòng xe ô tô; “Netflix” gợi ý về dịch vụ phát nội dung qua Internet.
- Nhãn hiệu gợi tả được coi là có khả năng phân biệt và được bảo hộ.
- Nhãn hiệu tùy ý/ngẫu hứng (Arbitrary Marks)
- Đặc điểm: Là những từ ngữ thông thường, có nghĩa trong từ điển nhưng hoàn toàn không liên quan gì đến sản phẩm/dịch vụ mà nó gắn lên.
- Khả năng phân biệt: Cao. Dễ dàng được chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu.
- Ví dụ: Dùng từ “Apple” (Quả táo) cho các sản phẩm điện thoại; SUNNY cho sản phẩm máy tính
- Nhãn hiệu tưởng tượng / Tự đặt (Fanciful / Invented Marks)
- Đặc điểm: Các từ hoàn toàn mới, không có nghĩa trong bất kỳ cuốn từ điển nào, được tạo ra chỉ để làm nhãn hiệu. Các từ tự đặt là các từ khó nhớ vì không gắn liền với đặc điểm của hàng hóa dịch vụ nhưng những nhãn hiệu này là loại có khả năng phân biệt mạnh nhất và có khả năng được bảo hộ cao nhất.
- Khả năng phân biệt: Tuyệt đối. Đây là nhóm có khả năng đăng ký bảo hộ cao nhất.
- Ví dụ: “Pepsi” cho đồ uống, “Kodak” cho máy ảnh, hay “Exxon” cho dầu nhớt.

Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định nhãn hiệu được bảo hộ nếu là dấu hiệu nhìn thấy được và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Theo quy định tại khoản a, b, c, d, đ, Điều 74.2, các dấu hiệu mang tính mô tả, chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, chất lượng, công dụng hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ thường bị coi là không có khả năng phân biệt tự thân, trừ trường hợp đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng.Theo đó, các nhãn hiệu không đáp ứng quy định theo các điều khoản nêu trên có thể không được bảo hộ.
Tuy nhiên, một số trường hợp nhãn hiệu có thể được bảo hộ dựa trên các cách thức sau:
- Chứng minh nhãn hiệu đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước ngày đăng ký
Mặc dù Điểm c Khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ đưa ra căn cứ từ chối nhưng có kèm theo ngoại lệ, nếu chứng minh nhãn hiệu đăng ký của mình đáp ứng ngoại lệ này, nhãn hiệu bị dự định từ chối do mang tính mô tả vẫn có khả năng vượt qua thông báo từ chối, cụ thể:
– Bằng chứng về việc sử dụng một cách rộng rãi dấu hiệu với chức năng nhãn hiệu (số lượng người tiêu dùng liên quan biết đến, thời gian bắt đầu sử dụng, phạm vi, mức độ sử dụng trước ngày nộp đơn, doanh số từ việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ v.v.) và do đó dấu hiệu có khả năng phân biệt đối với hàng hóa, dịch vụ liên quan.
– Bằng chứng về việc dấu hiệu đã được sử dụng liên tục và phổ biến trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại, quảng cáo, tiếp thị hợp pháp ở dạng như thể hiện trong đơn đăng ký.
- Kết hợp yếu tố mô tả với các yếu tố có khả năng phân biệt khác
Mặc dù nhãn hiệu mang tính mô tả thường không được bảo hộ nếu chỉ phản ánh trực tiếp đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ, nhưng trong thực tiễn vẫn có những cách thức để các nhãn hiệu này được chấp nhận bảo hộ. Và một trong những cách đó là kết hợp yếu tố mô tả với các yếu tố có khả năng phân biệt khác như hình ảnh, biểu tượng, cách trình bày đặc biệt, kiểu chữ cách điệu hoặc các yếu tố sáng tạo. Khi tổng thể nhãn hiệu tạo được ấn tượng riêng và giúp người tiêu dùng nhận biết nguồn gốc thương mại, khả năng được bảo hộ sẽ cao hơn.
- Chứng minh nhãn hiệu có khả năng phân biệt tự thân và không mang tính mô tả
Trường hợp không thể đưa ra các bằng chứng chứng minh để được hưởng ngoại lệ theo Điểm c Khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ theo Cách 1, cơ hội vượt qua ý kiến từ chối của Cục Sở hữu trí tuệ vẫn còn nếu ý kiến giải trình của là xác đáng, rằng nhãn hiệu không mang tính mô tả cho hàng hóa, dịch vụ đăng ký và có khả năng phân biệt đối với người tiêu dùng.
Ngoài ra khi xét nghiệm các đơn đăng ký nhãn hiệu, nếu xét nghiệm viên nhìn ra các yếu tố không có khả năng phân biệt tự thân xuất hiện trong nhãn hiệu, các yếu tố này sẽ tự động được loại trừ bảo hộ trong văn bằng bảo hộ.

Việc nhãn hiệu có khả năng phân biệt càng lớn thì mức độ phân biệt với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác càng cao. Ngoài ra, đây là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền đánh giá khả năng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, giúp người tiêu dùng nhận diện nguồn gốc thương mại của hàng hóa, dịch vụ. Hơn nữa, nhãn hiệu có khả năng phân biệt cao sẽ hạn chế việc độc quyền đối với các từ ngữ, dấu hiệu mà mọi chủ thể kinh doanh đều cần sử dụng để mô tả sản phẩm hoặc dịch vụ của mình.
Chính vì vậy, việc tra cứu nhãn hiệu để đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu trước khi tiến hành nộp đơn là yếu tố then chốt để các doanh nghiệp, người nộp đơn bảo hộ thành công các nhãn hiệu của mình.
Nếu Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn về quyền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là nhãn hiệu tại Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar, hoặc bất kỳ quốc gia nào khác, vui lòng liên hệ với HAVIP để được hỗ trợ và tư vấn giải pháp phù hợp.

