NGOẠI LỆ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÂU HỎI LIỆU TRÍ THÔNG MINH NHÂN TẠO (AI) ĐI HỌC CÓ CẦN MUA SÁCH?
Quyền tác giả (hay bản quyền) vốn mang tính chất độc quyền. Tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả được pháp luật trao quyền kiểm soát việc khai thác tác phẩm, bao gồm các quyền như sao chép, phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng, làm tác phẩm phái sinh và nhiều hình thức sử dụng khác.
Sự độc quyền này tồn tại vì một lý do rất đơn giản: Sáng tạo cần động lực để tồn tại.
Tuy nhiên, nếu quyền độc quyền này được thực thi một cách cực đoan và tuyệt đối, tức là bất kỳ hành vi tiếp cận, sử dụng nào cũng phải qua việc xin phép và trả tiền, thì xã hội sẽ đối mặt với nguy cơ dòng chảy tri thức bị cản trở, kìm hãm sự phát triển của giáo dục và đổi mới sáng tạo.
Hãy thử tưởng tượng, một học sinh muốn trích dẫn vài câu thơ vào bài văn nghị luận cũng phải đi tìm tác giả để xin phép. Một giáo viên muốn photo vài trang tài liệu để minh họa trong bài giảng phải ký hợp đồng sử dụng. Một nhà nghiên cứu muốn phân tích hàng nghìn tài liệu cũng phải liên hệ với từng tác giả của từng tài liệu đó. Và nếu phải hoàn thành tất cả các công việc đó trước khi sử dụng, thì có lẽ tốt nhất là không dùng ngay từ đầu.
Đó chính là lý do Ngoại lệ quyền tác giả ra đời.
NGOẠI LỆ QUYỀN TÁC GIẢ – KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ MUỐN DÙNG GÌ CŨNG ĐƯỢC
Ngoại lệ quyền tác giả không phải là sự phủ nhận quyền lợi của tác giả hay chủ sở hữu quyền tác giả. Đây là một cơ chế cân bằng giữa một bên là quyền độc quyền của người sáng tạo và một bên là lợi ích công cộng. Cơ chế này cho phép công chúng sử dụng tác phẩm trong một số trường hợp nhất định mà không cần xin phép hoặc trả thù lao, ví dụ như phục vụ nghiên cứu, giáo dục, giảng dạy hoặc cung cấp thông tin.
Có một lầm tưởng vô cùng phổ biến mà từ sinh viên cho đến người đi làm vẫn truyền tai nhau, đó là cứ là phục vụ mục đích nghiên cứu, học tập, phi thương mại thì sẽ có quyền copy mà không cần phải xin ai hết. Thế nhưng đây lại là một cách hiểu vô cùng nguy hiểm.
Hãy cùng nhìn vào ví dụ sau: Bạn là tác giả của một cuốn giáo trình. Thế nhưng, toàn bộ sinh viên lại sao chép giáo trình đó với lý do “phục vụ học tập” mà không cần trả tiền. Vậy bạn bỏ công sức, thời gian viết cuốn giáo trình để thu lại được lợi ích gì? Bạn có thể nghĩ là, thôi thì sinh viên dùng cho mục đích học tập, nghiên cứu, tôi có thể bỏ qua, tôi sẽ bán sách cho những người khác không phải sinh viên. Thế nhưng liệu có người nào mua một giáo trình mà không dùng cho mục đích học tập, nghiên cứu không?
Vậy vấn đề là ở đâu?
CÁCH XÁC ĐỊNH CÁC TRƯỜNG HỢP THUỘC NGOẠI LỆ QUYỀN TÁC GIẢ (PHÉP THỬ 3 BƯỚC)
Phép thử 3 bước (3-step test), được quy định trong Điều 9.2 của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật. Đây là phương pháp để xác định những trường hợp nào có thể được coi là ngoại lệ của quyền tác giả. Cụ thể, một ngoại lệ quyền tác giả chỉ được chấp nhận khi đáp ứng 3 điều kiện sau:
- Điều kiện 1: Ngoại lệ chỉ được áp dụng trong một số trường hợp đặc biệt.
- Điều kiện 2: Không được làm phương hại đến việc khai thác bình thường của tác phẩm.
- Điều kiện 3: Không gây thiệt hại một cách bất hợp lý tới quyền lợi hợp pháp của tác giả.

Tại Việt Nam, tinh thần của Phép thử 3 bước cũng được thể hiện trong Điều 25 Luật SHTT. Pháp luật vừa quy định các trường hợp được phép sử dụng tác phẩm trong một số hoàn cảnh nhất định (Ví dụ: phục vụ mục đích nghiên cứu, học tập, giảng dạy, đưa tin), vừa đặt ra giới hạn rằng việc sử dụng không được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Như vậy, việc sử dụng giáo trình miễn phí như ví dụ ở trên mới chỉ thỏa mãn điều kiện thứ nhất (dành cho mục đích đặc biệt là học tập). Nhưng để việc sử dụng này được coi là hành động hợp lý thuộc ngoại lệ quyền tác giả thì cần phải xem xét liệu việc sử dụng đó có làm ảnh hưởng đến (i) khả năng khai thác tác phẩm và (ii) gây thiệt hại bất hợp lý cho tác giả hay không. Và một điều đáng tiếc là chúng ta thường quên mất 2 điều kiện này.
TEXT-DATA MINING (TDM) – NGOẠI LỆ MỚI CỦA QUYỀN TÁC GIẢ TRONG LUẬT SHTT
Text and Data Mining (TDM) có thể hiểu đơn giản là hoạt động sử dụng công nghệ để thu thập, xử lý và phân tích một lượng lớn dữ liệu nhằm tìm kiếm thông tin, xu hướng hoặc xây dựng các mô hình mới. Đây là một bước vô cùng quan trọng trong quá trình huấn luyện trí thông minh nhân tạo (AI).
Một hệ thống AI muốn có khả năng xử lý ngôn ngữ, tạo hình ảnh hoặc phân tích âm thanh cần được huấn luyện từ một lượng dữ liệu rất lớn. Những dữ liệu này có thể bao gồm sách, bài báo, hình ảnh, âm nhạc và nhiều nội dung, tác phẩm. Đây đều có thể là những tác phẩm được bảo hộ bản quyền, và sẽ phải xin phép trước khi sử dụng. Tuy nhiên, với nhu cầu hàng triệu tài liệu để cho AI “học”, việc xin từng tác giả cấp phép cho các tài liệu đó trở nên bất khả thi. Đó là lý do đề xuất về một ngoại lệ quyền tác giả mới cho việc huấn luyện AI (ngoại lệ TDM) ra đời.
Việt Nam là một trong số ít quốc gia có bước đi vô cùng dũng cảm đó là bổ sung ngoại lệ này vào Luật SHTT sửa đổi năm 2025, trong khi nhiều nước vẫn rất e dè. Cụ thể, Khoản 5 Điều 7 cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng văn bản và dữ liệu về đối tượng quyền SHTT đã được công bố hợp pháp và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện hệ thống AI mà không cần xin phép hay trả tiền tác giả, với điều kiện việc sử dụng này không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền SHTT. Có thể thấy, quy định này được xây dựng với mục tiêu tạo điều kiện cho sự phát triển của AI.
Về cơ bản, ngoại lệ TDM mới của Việt Nam đã được xây dựng theo hướng đáp ứng tinh thần của Phép thử 3 bước trong Công ước Berne. Tuy nhiên, chính tại đây, tranh luận bắt đầu xuất hiện.
NGOẠI LỆ TDM: BÊN LÝ – BÊN TÌNH
Ở góc độ phát triển công nghệ, sự tồn tại của ngoại lệ TDM có những lý do hợp lý.
Những người ủng hộ ngoại lệ TDM cho rằng AI cũng đang thực hiện một quá trình “học hỏi” từ dữ liệu giống như con người. Con người có thể đọc sách, xem tranh, nghe nhạc để tiếp thu tri thức và tạo ra sản phẩm mới mà không cần xin phép từng tác giả. Vậy AI cũng nên được học như vậy. Do đó, việc đặt ra một rào cản quá lớn đối với AI (phải xin phép và trả tiền tác quyền) có thể làm hạn chế đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, những lo ngại đối với ngoại lệ TDM không phải là không có cơ sở.
Khác với một cá nhân đọc một cuốn sách để học tập, AI có thể tiếp nhận, xử lý hàng triệu tác phẩm trong thời gian rất ngắn và từ đó tạo ra các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trực tiếp với các sản phẩm sáng tạo của con người. Một người có thể mất vài năm để hoàn thành một cuốn tiểu thuyết, nhưng AI có thể viết một tác phẩm chỉ trong vài phút hoặc thậm chí vài giây. Quá trình “học” của AI thường được ví như một chiếc hộp đen (black box). Tác giả sẽ rất khó để biết được AI đang sao chép, xử lý các dữ liệu như thế nào “trong đầu” để chứng minh tác phẩm do AI tạo ra xâm phạm quyền tác giả của mình.
Hơn nữa, nếu các tác phẩm sáng tạo của con người là nguồn dữ liệu đầu vào để huấn luyện các hệ thống AI có khả năng ra giá trị thương mại rất lớn về sau, liệu việc sử dụng hoàn toàn miễn phí có tạo ra sự mất cân bằng giữa lợi ích của doanh nghiệp công nghệ và lợi ích của các tác giả – người sáng tạo?
Thêm vào đó, mặc dù quy định của pháp luật cũng đã có những chốt chặn (điều kiện 2 và 3 trong phép thử 3 bước) như “không gây cản trở cho việc khai thác bình thường của tác phẩm”, hay “không gây thiệt hại đến quyền của tác giả”. Thế nhưng, trên thực tế, việc chứng minh thiệt hại là rất khó khăn. Và điều này cũng đặt ra gánh nặng chứng minh cho chính các tác giả nếu có xảy ra tranh chấp.
Tranh luận về ngoại lệ TDM không đơn giản là câu chuyện bên nào đúng hay sai hoàn toàn. Đây là bài toán khó về sự cân bằng giữa hai mục tiêu đều quan trọng: bảo vệ động lực sáng tạo của con người và thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ.
VẬY TÁC GIẢ CẦN LÀM GÌ BÂY GIỜ ĐỂ TỰ BẢO VỆ MÌNH
Tác động thực tế của ngoại lệ TDM tới quyền tác giả (dù tốt hay xấu) tại Việt Nam vẫn cần thời gian để đánh giá. Hiện nay, chưa có nhiều thực tiễn xét xử hoặc tranh chấp cụ thể để xác định cách thức áp dụng quy định này. Do đó, việc các tác giả và chủ thể quyền tác giả cần làm trước hết là tự bảo vệ quyền của mình.
Rất may mắn là Nghị định 134/2026/NĐ-CP ngày 06/04/2026 đã quy định cơ chế bảo lưu quyền (opt-out), cho phép chủ thể quyền thể hiện ý chí không cho phép tác phẩm của mình được sử dụng cho mục đích huấn luyện AI. Do đó, nếu bạn không muốn tác phẩm của mình bị sử dụng miễn phí để huấn luyện AI, bạn có thể tuyên bố rằng bạn không cho phép việc sử dụng này. Việc tuyên bố bảo lưu trên có thể được thực hiện thông qua các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả, hoặc bằng các biện pháp công nghệ khác.
LỜI KẾT
Giữa những tranh cãi không hồi kết về ngoại lệ TDM, chúng tôi xin phép trích dẫn lời phát biểu của Giám đốc WIPO Daren Tang: “Sự sáng tạo và đổi mới là những yếu tố cốt lõi của con người; hệ thống sở hữu trí tuệ và công nghệ cần tiếp tục bảo vệ, nuôi dưỡng và hỗ trợ điều đó, với con người là trung tâm”. [1]
Suy cho cùng, câu hỏi không phải là “Nên cho AI học miễn phí hay không?” mà là “AI được phép học trong giới hạn nào để vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa không làm mất đi động lực sáng tạo của những người tạo ra tri thức ban đầu?”.
Với sự phát triển nhanh chóng của AI và những thay đổi liên tục trong pháp luật sở hữu trí tuệ, HAVIP luôn theo sát các xu hướng pháp lý mới nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, nhà sáng tạo và các chủ thể quyền bảo vệ tài sản trí tuệ của mình, đồng thời tận dụng hiệu quả các cơ hội đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên công nghệ. Nếu Quý khách hàng có nhu cầu tư vấn về quyền tác giả, bảo vệ và khai thác các tài sản trí tuệ, vui lòng liên hệ với HAVIP để được hỗ trợ và tư vấn giải pháp phù hợp.
